3 tháng 11, 2008
Tản mạn gánh hàng rong
Tôi nhớ ngày xưa, vào những buổi chiều mưa dầm lạnh lẽo, thỉnh thoảng, mẹ tôi lại "đãi" anh em chúng tôi một bữa cơm chan nước phở. Một gánh phở rong hồng bếp lửa thơm nồng mùi hồi, mùi hành ngò; béo ngậy mùi xương hầm ghé vào mái hiên của những bà mẹ nghèo, trong một xóm nghèo là cả một niềm vui đối với lũ trẻ chúng tôi ngày ấy.
Mẹ tôi chỉ dám mua một bát phở nhưng xin thật nhiều nước để sau đó còn chan vào cơm cho cả bốn anh em chúng tôi. Ông hàng phở, có lẽ cũng cám cảnh phận nghèo nên luôn dễ dãi và hồn hậu ngồi nhìn anh em chúng tôi húp sùm sụp cái bát phở nghèo vôn chẳng nhiều nhặn gì cho cam.
Cái vị thơm nồng của bát phở trong những chiều mưa ngày ấy, cho đến nay, sau gần bốn mươi năm, khi mà mẹ tôi đã ra người thiên cổ và tôi cũng đã già sao vẫn thoang thoảng đâu đây khiến tôi nhớ đến cay nồng cả mắt …
Hình ảnh gánh phở rong – khu xóm nghèo – những chiều mưa … sao mà gần gũi, ấp áp và thân thương đến thế !
Hình như có người đã nói : những người bán hàng rong cũng là một nét văn hóa đặc sắc của xã hội Việt Nam. Vâng, tôi nghĩ và thấy đúng lắm. Chính bà cụ già với thúng xôi bên vệ đường mỗi sáng, tiếng rao bánh mì lanh lảnh trong đêm của những chú bé, tiếng kéo lách cách rộn rã của những xe bò bía trước cổng trường … những điều tưởng như nhỏ nhặt tầm thường ấy lại làm chúng ta yêu và nhớ làng xóm, nhớ quê hương đến da diết, nao lòng mỗi lúc đi xa …
Mấy hôm nay, nghe mọi người bàn tán đến ngày 01.01.2008, những người bán hàng rong không có giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ không được hành nghề nữa, nếu vi phạm sẽ bị phạt nặng đến cả chục triệu đồng.
Thiết nghĩ: đất nước đi lên, xã hội mở cửa hội nhập cùng bạn bè quốc tế nên nhà nước đặt ra những qui định như thế cũng phải thôi. Thế nhưng sao tôi vẫn cảm thấy chạnh lòng khi nghĩ đến sáng mai đây không còn thấy bà cụ bán xôi ngồi trước cổng nhà thờ, không còn tiếng rao hờ của chị bán tàu hủ mỗi trưa gắt nắng … Chả lẽ tất cả sẽ đi vào dĩ vãng, không bao giờ trở lại ...
NHỊ PHƯƠNG - BR,ngày cuối năm 2007
Bà Rịa của tôi (II)
Ở Bà Rịa đã gần mòn đời vậy mà mãi đến mới đây tôi mới nhận ra Bà Rịa của mình đẹp. Bà Rịa đẹp bởi ít có nơi nào hội tụ đủ cả sông - núi - biển - rừng như thế. Phía tây là dòng sông Dinh lững lờ ôm chân dãy núi Dinh, xa hơn một chút là dãy núi Thị Vải xanh thẫm trải dài, nghe bảo đó là cái đuôi lạc loài của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Phía đông và phía nam là mênh mông cồn bãi, ruộng đồng và rừng, biển bao bọc.
Ngày xưa, Bà Rịa chỉ là một thị trấn nhỏ, đìu hiu, như một cô thôn nữ e ấp, thẹn thùng nép mình bên cô gái Vũng Tàu lộng lẫy, tân thời. Người ta biết Bà Rịa vì qua Vũng Tàu. Ngày ấy, Bà Rịa nhỏ hẹp với những con đường đi dăm phút đã về chốn cũ, những tảng đá xanh bó vỉa hè mòn vẹt nhẵn bóng, những cột điện cũ kỹ có từ thời Pháp thuộc. Lẩn khuất dưới những rặng dừa, vườn vú sữa, những cội me già là những ngôi nhà lợp ngói âm dương thấp bé, êm đềm. Thuở ấy lũ học trò nhỏ chúng tôi, sau những buổi học thường đến nhà nhau trèo cây hái vú sữa, nhặt me rơi rồi ngồi dưới những giàn hoa giấy, hoa thiên lý "nhâm nhi" mà nói đủ chuyện từ đá bóng, đến bắt dế, cắm câu, thả diều … Ngày ấy Bà Rịa nhỏ nhắn, cũ kỹ mà thật thân thương, gần gũi!
Bà Rịa bây giờ khác lắm rồi. Ai đi xa dăm năm trở về đã không còn nhận ra bóng dáng cô thôn nữ e ấp ngày nào. Những con đường mới mở thênh thang, thẳng tắp, phố xá nối nhau san sát, người xe tấp nập … Bà Rịa đã "trổ giò" nhanh chóng trở thành một cô gái thị thành xinh xắn, song vẫn chưa mất đi hết vẻ bẽn lẽn thơ ngây ngày nào.
Tôi yêu Bà Rịa bằng một tình yêu nhẹ nhàng mà đằm thắm, có lẽ vì thế mà đôi khi tự mình không nhận ra tình yêu đó, chỉ đến khi nào đi xa, lòng mới thấy luyến lưu và đau đáu mong ngày trở lại, như trở lại với người tình bé nhỏ, thủy chung, với mái nhà xưa yên bình, hiền hòa có tiếng chim hót trong trẻo sau nhà mỗi sáng, và những con người giản dị, thân quen mỗi sớm mai ta gặp trên đường.
-Người BàRịa-
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)