24 tháng 1, 2009

Nhớ Tết xưa

Nhớ Tết xưa
Tôi nhớ ngày xưa khi còn học lớp vỡ lòng, tức lớp khai tâm chuẩn bị bước vào lớp năm (tức lớp một ngày nay) ở Rừng Lăng, một làng quê tỉnh thuộc quận TN, tỉnh QN, thầy giáo đầu tiên của tôi tên là Luật, nhà ở mãi sâu trong làng, từ chỗ chúng tôi đến nhà Thầy phải mất ba cây số, đi hết quãng đường ruộng gập gềnh, qua một bãi tha ma, một con lạch nhỏ mới đến nơi. Lớp học của Thầy đủ mọi trình độ từ lớp vỡ lòng đến lớp ba. Mỗi lớp ngồi thành một nhóm riêng. Lớp vỡ lòng chúng tôi gồm dăm đứa ngồi, bò lổm ngổm trên cái phản bên trái, mấy đứa lớp năm (bây giờ là lớp một) ở cái phản bên phải, còn các anh lớp tư và lớp ba (bây giờ là lớp hai, lớp ba) thì chễm chệ ở gian giữa, đối diện với bàn của Thầy. Lớp học chỉ có mỗi cái bảng gỗ sơn đen cũ kỹ đặt ngay gian giữa, sau lưng Thầy ngồi, thế nên Thầy chỉ có thể chép bài cho từng lớp một, mỗi khi lớp này chép bài thì lớp kia làm tính hay đọc bài, đánh vần, đọc cửu chương … vì thế mà lớp học lúc nào cũng rộn ràng, inh ỏi tiếng ê a của lũ học trò và tiếng thước gõ nhịp của Thầy hoặc của đứa ở lớp lớn hơn may mắn được Thầy giao nhiệm vụ, ngày ấy nhiệm vụ này rất danh giá và là nỗi ao ước của bất kỳ đưa nào trong lũ chúng tôi.
Thầy nghèo nên nhà chỉ là mái tranh vách đất, vợ con Thầy trồng thuốc và sắn (khoai mì). Đến mùa thu hoạch, thuốc và sắn phơi đầy ngoài sân. Vừa học, chúng tôi vừa phải thỉnh thoảng chạy ra đuổi lũ gà phá những mẹt sắn phơi ngoài sân cho Thầy (việc này cũng là hân hạnh lắm). Lớp không đóng học phí bằng tiền, thỉnh thoảng mẹ tôi lại xách một con gà, vài cân gạo nếp hoặc thẻ đường đến biếu Thầy, những lần ấy tôi bao giờ cũng được đi cùng nhưng chỉ được đứng ngoài sân chơi với con chó vện nhà Thầy và tôi cũng chẳng bao giờ biết được mẹ tôi nói gì với Thầy trong những lần gặp gỡ ấy.
Vào những ngày Tết, theo tục lệ mùng một thì Tết nhà cha, mùng hai Tết mẹ, mùng ba Tết Thầy, lũ học trò chúng tôi lại náo nức chuẩn bị việc đi Tết Thầy. Quà Tết thường đã được sắm sửa từ trước Tết, cái nào ăn, cái nào biếu tết, phần ai, phần ai đều đã được người lớn phân định rõ ràng. Đến sáng mùng ba tết, khi nắng bừng lên làm tan những giọt sương đêm là lúc xuất hành, bọn tôi đi thành đoàn, đứa nào cũng lễ mễ bưng xách những mâm quà, giỏ quà đến biếu Thầy. Quà chẳng là thứ gì cao sang mà chỉ là những sản vật bình dị như một con gà, dăm cân gạo, đôi bánh chưng, hoặc chỉ là một gói trà, hay bánh pháo (ngày xưa còn cho đốt pháo) … Những lần đi tết Thầy bọn tôi thích lắm vì được mặc quần áo đẹp và thể nào cũng được Thầy cho ăn bánh mứt hay kẹo mạch nha … những thứ mà bọn trẻ ngày nay thấy rất đỗi tầm thường nhưng ngày xưa, với chúng tôi lại là những thứ xa xỉ và chỉ được dùng tương đối thoải mái vào những ngày tư ngày tết.
Thực ra lúc bấy giờ lũ trẻ ngờ nghệch chúng tôi cũng chẳng biết chúc tụng gì mà chỉ biết đặt quà lên chiếc bàn ở gian nhà chính, nơi mà Thầy vẫn ngồi dạy chúng tôi, rồi sụt sịt mũi xanh, khoanh tay, cúi đầu lắng nghe Thầy dặn dò khuyên bảo mấy lời đầu năm, đại để là các con cố gắng học hành tấn tới, ngoan ngoãn, vâng lời … để sau này thế này, thế kia … Lúc ấy, đứa nào mặt mũi cũng nghiêm trang, ra chiều lắng nghe và cảm động trước những lời giáo huấn của Thầy, nhưng kỳ thực chỉ chực chờ Thầy dứt lời và ra hiệu là chúng tôi sà ngay vào chiếu bánh mứt đã được bày sẵn và ngấu nghiến với tốc độ ánh sáng. Ăn xong chúng tôi ùa ra sân bày trò chơi khăng, chơi u mọi hoặc trốn tìm, mãi đến gần trưa, khi Thầy có khách đến thăm, lũ chúng tôi mới lục tục nối đuôi nhau vòng tay vào nhà chào Thầy ra về. Mặt trời trưa gay gắt, những bộ cánh mới đẹp đẽ sáng nay của chúng tôi giờ đã bèo nhèo, xốc xếch, lấm lem và mặt mũi đứa nào đứa nấy đều đỏ gay, nhễ nhại mồ hôi .
Chiến tranh, gia đình tôi rời làng vào miền Nam. Tôi cũng chẳng biết được tin tức gì về Thầy và lũ bạn học kể từ đấy nữa. Ba mươi năm sau, nhân một chuyến công tác ở Đà Nẵng, lúc tàu đi qua QN, khi ấy trời đang rạng sáng, tôi nhìn qua khung cửa sổ toa tàu, ở ngoài xa xa kia, nơi những vùng quê còn đang yên ngủ, trên bầu trời những ánh hồng chỉ mới vừa le lói, tôi lại thấy một Rừng Lăng xa cũ và bình yên ngày ấy, với những triền đồi đầy hoa sim và ẩn hiện những cụm lê hoa trắng ngà đan cánh như hoa hồng nhưng chỉ nhỏ bằng đồng xu, thơm ngát mà ngày xưa chúng tôi thường hái về ngâm nước làm nước hoa cho bọn con gái bôi lên tóc. Rồi những đứa bạn cùng trang lứa như anh em thằng Kính, thằng Kình, thằng Hòa, thằng Sửu, con Duyên … và Thầy tôi, không biết có còn hay đã ra người thiên cổ? Khi tàu dừng ga QN, bỗng nôn nao một cảm giác kỳ lạ, tôi muốn bước ngay xuống tàu để một lần ghé về thăm lại con dốc, bụi tre, bãi cỏ, triền đê ngày ấy, chỉ một lần thôi và cho dù ở đó chẳng còn ai nhận ra tôi đi nữa. Nhưng sao tôi vẫn ngồi yên. Đến khi tàu rúc lên hồi còi sắp sửa chuyển bánh, tôi thấy lòng mình rưng rưng như sắp sửa để lạc mất một cái gì mãi mãi không tìm lại được. Tàu tiếp tục chạy và Rừng Lăng ngày xưa của tôi vùn vụt trôi lại sau lưng trong cái chập choạng và se lạnh của bình minh ngày mới, để rồi đến khi ngồi viết những dòng này, tôi lại nghĩ giá mà … giá mà ...
Nam Trần - 27 tết Kỷ Sửu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét